Giảm sốc thiết vị bếp
Vảy nến là gì? Nguyên nhân, chuẩn đoán, điều trị và phòng ngừa
30-06-2023 16:43:21 | Bệnh về da

Vảy nến là căn bệnh da liễu khá phổ biến. Người bệnh mắc vảy nến thường bị ngứa ngáy, đau rát, khó chịu, ửng đỏ, bong tróc da. Vảy nến nếu tái đi tái lại nhiều lần có thể gây nhiễm trùng da, viêm khớp, vảy nến mủ, đỏ da toàn thân...

1. Vảy nến là gì?

Vảy nến còn được gọi là Psoriasis, là một trong những bệnh thuộc nhóm bệnh đỏ da bong vảy. Đây là tình trạng bệnh lý da mạn tính, tiến triển thành từng đợt, những đợt bệnh ổn định xen kẽ những đợt bùng phát, tái diễn dai dẳng suốt đời.

Hình ảnh bệnh vảy nến

Bệnh được đặc trưng bởi các mảng thương tổn màu đỏ trên da, có vảy, ranh giới rõ. Ngoài ra, Vảy nến còn có thể gây tổn thương ở niêm mạc, móng và khớp.

Bệnh có thể gặp ở hầu hết nước trên thế giới. Tỷ lệ bệnh Vảy nến chiếm khoảng 2-3% dân số tùy theo từng quốc gia. Theo thống kê, có khoảng 7,4 triệu người ở Hoa Kỳ mắc bệnh Vảy nến.

Bệnh không nguy hiểm đến tính mạng người bệnh tuy nhiên lại ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của họ: ảnh hưởng thẩm mỹ, đời sống tinh thần cũng như kinh tế, vật chất…

2. Các loại bệnh vảy nến thường gặp

2.1 Vảy nến thể mảng

Dạng vảy nến này tạo ra những vùng da viêm, đỏ; được bao phủ bởi các lớp vảy hoặc mảng bám có màu bạc trắng. Các vùng da thể hiện tình trạng bệnh này thường được nhận thấy ở đầu gối, khuỷu tay và da đầu.

Vẩy nến thể mảng thường xuất hiện ở khuỷu tay

2.2 Vảy nến thể giọt

Vảy nến thể giọt gây ra các đốm da nhỏ có màu hồng. Các vị trí thường có triệu chứng này thường nằm ở các điểm như phần thân, cánh tay và chân. Các đốm da này thường hiếm khi có độ dày hoặc trồi lên trên bề mặt da như ở dạng vảy nến thể mảng.

2.3 Vảy nến thể mủ

Vảy nến thể mủ thường xuất hiện ở những người trưởng thành. Nó khiến làn da trở nên viêm và xuất hiện những bọc mủ trắng. Dạng vảy nến này thường chỉ giới hạn tại những địa điểm nhỏ hơn trên làn da, như bàn tay hoặc chân, nhưng vẫn có thể lan rộng.

2.4 Vảy nến thể đảo ngược

Dạng vảy nến này gây ra những vùng da viêm nhiễm có màu đỏ sáng óng ánh. Những vùng da này phát triển tại các vùng như nách, ngực, háng, hoặc tại xung quanh các nếp da gấp của bộ phận sinh dục.

2.5 Vảy nến thể đỏ da toàn thân

Dạng vảy nến này khiến làn da người bệnh trông như bị cháy nắng. Các vùng vảy da thường bong tróc theo một mảng lớn. Ở những bệnh nhân mắc dạng vảy nến thể đỏ da toàn thân thì việc bị sốt và ốm nặng là rất dễ xảy ra. Bệnh có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người mắc phải, hãy đến gặp bác sĩ ngay nếu bạn bắt đầu nhận thấy các triệu chứng.

3. Nguyên nhân Vảy nến

Nguyên nhân gây bệnh Vảy nến chưa được làm rõ. Nhiều quan điểm cho rằng Vảy nến là bệnh do rối loạn miễn dịch và có yếu tố di truyền.

3.1. Yếu tố di truyền

Bệnh Vảy nến thường gặp ở những người có HLA-B13, B17, BW57 và CW6, đặc biệt là HLA-CW6 chiếm 87% bệnh nhân. Người thừa hưởng một trong số các gen này làm cho họ có nhiều khả năng phát triển bệnh Vảy nến.

  • HLA-B17 hay gặp ở Vảy nến thể giọt, đỏ da toàn thân.
  • HLA-B13 hay gặp ở bệnh nhân Vảy nến có tiền sử nhiễm liên cầu.
  • HLA-B27 hay gặp ở Vảy nến thể khớp hơn là Vảy nến da.
  • Vảy nến mụn mủ có HLA-B8, BW35, CW7 và DR3, không có HLA-B13, B17…

Theo Tổ chức Bệnh Vảy nến Quốc gia (NPF), chỉ khoảng 2-3% những người có gen này phát triển thành bệnh Vảy nến.

Tuy nhiên, người ta thấy rằng có nhiều yếu tố quyết định tính di truyền trong bệnh Vảy nến, bởi vậy, không một yếu tố riêng nào có thể gây được bệnh.

3.2. Cơ chế miễn dịch

Bệnh Vảy nến là kết quả của một quá trình sản xuất da quá mức. Bệnh xảy ra do hệ thống miễn dịch hoạt động quá mức làm tăng tốc độ phát triển của tế bào da. Các tế bào da bình thường sẽ sản sinh, tái tạo trong thời gian khoảng một tháng, hay nói cách khác, chu kì làm việc của da sẽ kéo dài trong khoảng 4 tuần. Còn với bệnh Vảy nến, các tế bào da lại làm điều này chỉ trong vài ngày. Thay vì các tế bào da được sản sinh đúng tiến độ, da chết sẽ được bong ra, mất đi qua việc chúng ta tắm rửa, kì cọ hàng ngày thì các tế bào da ở bệnh nhân Vảy nến lại liên tục được sản sinh, đốt cháy giai đoạn, ảnh hưởng đến sự tăng sinh và biệt hóa các tế bào ở lớp thượng bì nên tạo ra những lớp tế bào không hoàn chỉnh, chồng chất lên nhau và tạo nên các thương tổn Vảy nến.

Các bệnh tự miễn là hệ quả khi mà cơ thể tấn công chính bản thân nó. Ở trường hợp bệnh vảy nến, một loại tế bào bạch cầu là tế bào lympho T tấn công nhầm vào các tế bào da.

Ở cơ thể một người bình thường, các tế bào bạch cầu được triển khai để tấn công và phá hủy các vi khuẩn xâm nhập và đối kháng với sự nhiễm trùng.

Trong trường hợp của bệnh vảy nến, các tế bào này có sự nhầm lẫn gây ra sự sản xuất quá nhiều các tế bào da. Điều này khiến những lớp tế bào da mới phát triển quá nhanh, bị đẩy lên bề mặt da và bắt đầu chồng chất với các tế bào da khác. Những tác động lên tế bào da còn khiến các vùng da bị viêm đỏ phát triển.

Tế bào lympho T tấn công nhầm vào các tế bào da gây ra bệnh vẩy nến

4. Các tác nhân gây kích hoạt bệnh vảy nến

Những tác nhân kích hoạt bệnh vảy nến phổ biến nhất là:

4.1 Đồ uống chứa cồn

Rượu chứa nồng độ cồn mạnh có thể gây bùng phát bệnh vảy nến. Nếu bạn đang sử dụng rượu một cách quá mức thì những đợt bùng phát vảy nến sẽ xảy đến thường xuyên hơn.

4.2 Thuốc

Một vài loại thuốc được cho rằng là gây kích hoạt bệnh vảy nến. Những loại thuốc này gồm có:

  • Lithium.
  • Thuốc chống sốt rét.
  • Thuốc huyết áp.

4.3 Nhiễm trùng

Nếu bạn đang bị ốm hoặc đang chống chọi với bệnh nhiễm trùng, hệ miễn dịch sẽ đi đến quá tải trong việc kháng lại sự viêm nhiễm. Điều này sẽ dễ khiến một đợt phát bệnh xảy ra hơn. Viêm họng liên cầu khuẩn cũng thường là một tác nhân dẫn đến vảy nến.

5. Triệu chứng Vảy nến

Triệu chứng của bệnh Vảy nến rất đa dạng, ngoài biểu hiện ở da, còn có thể có thương tổn ở niêm mạc, móng, khớp. Những triệu chứng khác nhau ở mỗi người và phụ thuộc vào từng thể bệnh.

5.1. Thương tổn da

 Dát đỏ

  • Hình tròn, bầu dục, hoặc hình đa cung với kích thước khác nhau tạo thành những thể lâm sàng khác nhau (thể giọt, thể đồng tiền, thể mảng…).
  • Trên phủ vảy da khô, gồm nhiều lớp xếp chồng lên nhau, độ dày không đều, dễ bong, vảy màu trắng đục như xà cừ, phủ kín toàn bộ dát đỏ, có khi chỉ phủ một phần và để lại vùng rìa thương tổn.
  • Sờ mềm, không thâm nhiễm, ấn kính mất màu.
  • Ranh giới rõ với da lành.

 Ngứa nhiều hay ít phụ thuộc từng bệnh nhân

 Vị trí: thương tổn dát đỏ thường xuất hiện ở

  • vùng tỳ đè, dễ bị cọ sát như: mặt duỗi các chi, khuỷu tay, đầu gối, mấu chuyển...
  • vùng bị sang chấn, vết bỏng, sẹo, vết cào gãi gọi là dấu hiệu Koebner (chấn thương gọi tổn thương).

Thương tổn thường có tính chất đối xứng 2 bên.

Nghiệm pháp Brocq (+)

  • Dùng thìa Curette cạo trên thương tổn vảy nến theo phương pháp Brocq.
  • Cạo từ vài chục đến hàng trăm lần ta thấy: vảy da bong thành lát mỏng màu trắng đục như xà cừ.
  • Tiếp tục cạo ta lại thấy: một màng mỏng bong ra (gọi là màng bong).
  • Dưới lớp màng bong quan sát thấy: bề mặt đỏ, nhẵn, bóng, có những điểm rớm máu gọi là hạt sương máu.

Ở bệnh nhân Vảy nến đã điều trị hoặc trường hợp Vảy nến có biến chứng thì dấu hiệu này không rõ.

5.2. Thương tổn móng

Chiếm khoảng 30-50% số trường hợp bệnh nhân Vảy nến

Đa phần có kèm theo thương tổn da ở đầu ngón hoặc thân mình, đầu, mặt, cổ.

Nếu chỉ có thương tổn móng đơn thuần thì rất khó chẩn đoán, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý tại móng, phải sinh thiết móng để khẳng định chẩn đoán.

Thương tổn móng thường gặp:

  • Rỗ móng: có những chấm lõm trên bề mặt các móng (dạng cái đê khâu) hoặc những vân ngang, đốm trắng, viền màu vàng đồng trên bề mặt móng.
  • Hiện tượng bong móng ở bờ tự do, móng dầy và mủn.
  • Có thể biến mất toàn bộ phần móng để lộ giường móng, đỏ da, bong vảy sừng.
  • Xuất hiện các mụn dưới móng hoặc xung quanh móng ở Vảy nến thể mủ.

Thương tổn móng ở bệnh nhân vảy nến

5.3. Thương tổn khớp

Chiếm khoảng 10-20% số trường hợp bệnh nhân vảy nến.

  • Đau các khớp.
  • Hạn chế và viêm một khớp.
  • Viêm đa khớp trong bệnh vảy nến hình ảnh lâm sàng giống viêm đa khớp dạng thấp.
  • Viêm khớp cột sống ở bệnh nhân vảy nến hiếm gặp hơn so với viêm đa khớp, khó phân biệt với Viêm cột sống dính khớp.

Trên phim XQuang thể hiện tình trạng: mất vôi ở đầu xương, hủy hoại sụn, xương, dính khớp.

5.4. Thương tổn niêm mac

Ở quy đầu: những dát màu hồng, không thâm nhiễm, ranh giới rõ với vùng da lành, trên bề mặt dát không có hoặc rất ít vảy trắng, thương tổn có xu hướng tái diễn ở mỗi đợt bùng phát của bệnh.

Ở lưỡi: thương tổn viêm đỏ giống Viêm lưỡi hình bản đồ hoặc Viêm lưỡi phì đại tróc vảy.

Ở mắt: hình ảnh viêm kết mạc, viêm giác mạc, viêm mí mắt

Ngoài ra, tùy theo biểu hiện khác nhau của Vảy nến mà có các thể lâm sàng khác nhau:

  • Thể thông thường.

Dựa theo kích thước và số lượng thương tổn

  • Vảy nến thể chấm hay thể giọt: thương tổn có kích thước dưới 1cm.
  • Vảy nến thể đồng tiền: thương tổn kích thước từ 1-3 cm.
  • Vảy nến thể mảng hoặc thành đám: thương tổn kích thước từ 5-10cm.

Dựa theo vị trí thương tổn

  • Vảy nến ở các nếp gấp hay gọi là Vảy nến đảo ngược.
  • Vảy nến ở da đầu và ở mặt.
  • Vảy nến lòng bàn tay, bàn chân.
  • Vảy nến của các móng.
  • Thể đặc biệt.
  • Vảy nến thể mủ.
  • Thể của Barber: thương tổn khu trú ở lòng bàn tay, bàn chân.
  • Viêm da đầu chi liên tục của Hallopeau: thương tổn khu trú ở các đầu ngón tay, ngón chân.
  • Thể lan tỏa: thể lan tỏa nặng của Zumbusch.
  • Bệnh biểu hiện đột ngột sốt 40°C.
  • Những mảng dát đỏ kích thước lớn, lan tỏa, màu đỏ tươi, căng phù nhẹ, không có hoặc rất ít vảy gây nên tình trạng đỏ da toàn thân.
  • Trên bề mặt mảng dát đỏ xuất hiện những mụn mủ nhỏ li ti, kích thước bằng đầu đinh ghim, màu trắng đục tập trung thành đám. Những mụn mủ này vô khuẩn. Xét nghiệm mủ không tìm thấy vi khuẩn.

Ở bệnh nhân vảy nến thể mủ, các giai đoạn: dát đỏ, mụn mủ và bong vảy da xuất hiện xen kẽ do các đợt phát bệnh xảy ra liên tiếp.

  • Vảy nến đỏ da toàn thân.

Thường là biến chứng của Vảy nến thể thông thường, đặc biệt là do dùng corticoid toàn thân, có khi lại là biểu hiện đầu tiên của bệnh vảy nến.

Có hai hình thái:

  • Dạng khô, không thâm nhiễm tương ứng với thể vảy nến toàn thân hoặc vảy nến lan tỏa.
  • Dạng ướt và phù nề gọi là đỏ da toàn thân vảy nến.

Hình thái khô và ướt đôi khi lại là 2 giai đoạn tiến triển của bệnh, ban đầu thương tổn khô sau đó xuất hiện phù nề, nứt nẻ, tiết dịch, bội nhiễm.

Vảy nến trẻ em

Tất cả vảy nến thông thường ở người lớn có thể được thấy ở trẻ em. Tuy nhiên, vảy nến ở trẻ em có thể gặp một số hình thái đặc biệt.

  • Vảy nến cấp thể giọt. Thể này rất thường gặp, nó thường kế tiếp sau một bệnh nhiễm trùng mũi họng, đôi khi sau khi tiêm vacxin.
  • Vảy nến ở trẻ sơ sinh (psoriasis du nourrisson).

6. Các biến chứng Vảy nến

Vảy nến ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống người bệnh

Bệnh nhân bị Vảy nến khi không được điều trị bài bản, theo dõi định kỳ hoặc bệnh nhân không điều trị thì có thể dẫn đến các biến chứng như:

  • Tình trạng da vảy nến sẽ diễn biến thành những thương tổn chàm hóa, lichen hóa, bội nhiễm, thậm chí là ung thư da.
  • Đỏ da toàn thân.
  • Ở bệnh nhân Vảy nến thể khớp có thể làm biến dạng khớp, cứng khớp, đặc biệt là biến dạng cột sống gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động trong cuộc sống cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh.

7. Chẩn đoán bệnh vảy nến

Có 2 xét nghiệm hoặc kiểm tra cần thiết để chẩn đoán vảy nến.

7.1 Khám lâm sàng

Trong buổi khám lâm sàng này, hãy cho bác sĩ thấy toàn bộ các vùng da có vấn đề. Hơn nữa, hãy cho bác sĩ biết về việc có ai trong gia đình bạn mắc vảy nến hay không.

7.2 Xét nghiệm sinh thiết

Nếu các triệu chứng vẫn chưa rõ ràng hoặc bác sĩ muốn xác nhận lại chẩn đoán của họ, họ có thể lấy một mẫu da nhỏ của bệnh nhân để xét nghiệm sinh thiết.

Xét nghiệm sinh thiết chẩn đoán bệnh vảy nến

8. Các lựa chọn điều trị cho bệnh vảy nến

Vảy nến là một bệnh mạn tính, tuy không nguy hiểm đến tính mạng người bệnh nhưng lại ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của họ. Vậy nên, cần có liệu trình điều trị thích hợp và duy trì lâu dài. Điều trị bệnh Vảy nến chia thành 2 giai đoạn:

  • Giai đoạn tấn công: điều trị tại chỗ, toàn thân hoặc kết hợp cả hai nhằm làm sạch thương tổn.
  • Giai đoạn duy trì: để đảm bảo bệnh không bùng phát trở lại. Cần tư vấn cho người bệnh nắm rõ về tính chất mạn tính, tiến triển và ổn định từng đợt của bệnh Vảy nến để họ phối hợp tốt với thầy thuốc, tuân thủ điều trị cũng như đảm bảo có một lối sống, sinh hoạt điều độ phù hợp.

Cho đến nay, y học vẫn chưa có phương pháp điều trị khỏi hoàn toàn bệnh Vảy nến. Tuy nhiên, nếu vận dụng và phối hợp các phương pháp một cách hợp lý cùng với sự hợp tác tốt của người bệnh thì chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát tốt bệnh Vảy nến, hạn chế được các đợt bùng phát, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh Vảy nến.

Vảy nến không có thuốc chữa. Các liệu pháp điều trị thường nhắm đến việc giảm nhẹ sự viêm nhiễm và hình thành vảy da, làm chậm sự phát triển tế bào da và loại bỏ những mảng da bị vảy nến. Các hình thức điều trị vảy nến thường được chia làm 3 loại:

8.1 Điều trị dùng thuốc tại chỗ

Kem bôi và thuốc mỡ được thoa trực tiếp vào vùng da bị vảy nến cho thể rất có ích trong việc làm giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của bệnh vảy nến từ nhẹ đến vừa.

Các thuốc tại chỗ sử dụng để điều trị vảy nến là:

  • Thuốc corticoid dạng bôi.
  • Thuốc retinoid dạng bôi.
  • Thuốc anthralin.
  • Vitamin D và các thuốc tương tự.
  • Hoạt chất axit salicylic.
  • Kem dưỡng ẩm.

Kem bôi tay kem dưỡng ẩm tay

Kem dưỡng ẩm giúp điều trị bệnh

8.2 Các thuốc ức chế miễn dịch

Những loại thuốc này gồm có:

  • Thuốc methotrexate.
  • Thuốc ức chế miễn dịch sandimmune.
  • Thuốc sinh học.
  • Thuốc retinoid.

8.3 Quang trị liệu

Cách điều trị vảy nến này sử dụng tia cực tím (UV) hoặc ánh sáng tự nhiên. Ánh sáng mặt trời giúp tiêu hủy các tế bào bạch cầu hoạt động quá mức đang gây hại đến tế bào da và gây ra quá trình phát triển tế bào da quá nhanh. Cả 2 loại tia UVA và UVB có thể giúp ích trong việc làm giảm các triệu chứng của bệnh vảy nến từ nhẹ đến vừa.

9. Phòng ngừa Vảy nến

Người bị bệnh Vảy nến thì nên ăn gì?

Thực phẩm hay chế độ sinh hoạt, lối sống nói chung không thể chữa khỏi bệnh Vảy nến, nhưng chúng có thể làm thuyên giảm các triệu chứng của bệnh. Một lối sống lành mạnh có thể giúp giảm bớt các triệu chứng của bệnh Vảy nến cũng như làm giảm các đợt bùng phát bệnh

Một chế độ ăn uống lành mạnh:

  • Tăng cường thực phẩm giàu omega-3: cá hồi, cá mòi và tôm, quả óc chó, hạt lanh và đậu nành.
  • tăng cường rau xanh, hoa quả giàu vitamin C: Cam, bưởi, ổi...
  • Tránh thức ăn gây kích thích quá trình viêm: thịt đỏ, đường, sản phẩm từ sữa, thực phẩm chế biến sẵn.
  • Tránh sử dụng các chất kích thích: rượu, bia, thuốc lá, cà phê.

Tạo lối sống lành mạnh:

  • Ngủ đủ giấc, hạn chế thức khuya.
  • Thường xuyên tập luyện thể dục thể thao đều đặn mỗi ngày để có 1 tình thần thoải mái, 1 vóc dáng vừa vặn không thừa cân, nâng cao sức đề kháng, hệ miễn dịch.
  • Những căng thẳng, lo âu kéo dài có thể khởi phát hoặc gây nên đợt bùng phát mới của bệnh. Bởi vậy, bạn nên kiểm soát tốt tâm lý của mình, có thể ngăn chặn sự khởi đầu cũng như bùng phát bệnh.

Như vậy, vảy nến không phải là căn bệnh nguy hiểm nhưng chúng ta không thể chủ quan hay trì hoãn việc điều trị. Điều trị càng sớm thì khả năng kiểm soát bệnh càng cao. Ngay khi phát hiện những triệu chứng ban đầu của bệnh vảy nến hãy đến các trung tâm Da liễu uy tín được được chẩn đoán và hỗ trợ điều trị bệnh hiệu quả. 

Tài liệu tham khảo

Bệnh học Da Liễu tập 1 chủ biên PGS.TS. Nguyễn Văn Thường

đăng ký nhận tư vấn
Giỏ Hàng 0916 893 886 Messenger Chat Zalo